Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

của

Bài làm

Với quan niệm “Thơ là chuyện đồng điệu, là tiếng nói đồng ý và đồng tình, tiếng nói đồng chí”, Tố Hữu đã viết lên bài thơ “” thể hiện đầy đủ nội dung đó bằng các nghệ thuật đặc sắc. Bài thơ “” là một trong những đỉnh cao sự nghiệp Tố Hữu, cũng là đỉnh cao của văn học kháng chiến chống Pháp.

Bài thơ “Việt Bắc” ra đời sau cuộc chia tay lịch sử giữa đồng bào Việt Bắc ở lại và cán bộ chiến sĩ cách mạng về xuôi. Cuộc chia tay đánh dấu kết thúc những năm tháng Trung ương Đảng và Chính phủ hoạt động ở cứ địa Việt Bắc đồng thời đánh dấu sự giải phóng hoàn toàn miền Bắc Việt Nam năm 1954. Những sự kiện, địa điểm, ký ức… được nhắc tới tổng kết trọn vẹn trong quãng thời gian “mười lăm năm”:

“Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”

Bài thơ “Việt Bắc” có tính dân tộc sâu sắc. Bởi, Tố Hữu đã chọn hình thức đối thoại, đối đáp giữa hai bên kẻ ở và người đi để thể hiện tâm sự gắn bó nghĩa tình cách mạng. Những tình cảm đó không chỉ của riêng tác giả mà là tình cảm lớn lao chung của toàn quân và dân ta. Kẻ ở và người đi có tên gọi là “ta” và “mình”. Tố Hữu đã vận dụng cặp đại từ ta – mình quen thuộc trong dân gian trong bài thơ vô cùng linh hoạt và tinh tế. Vị trí của hai đại từ được hoán đổi liên tục. Khi tiếng lòng người ở lại cất lên thì:

Xem thêm:  Suy nghĩ về ý kiến: Con đường gần nhất để ra khỏi gian nan là đi xuyên qua nó

“Mình về mình có nhớ ta”
Khi người ra đi đau đáu trông về Việt Bắc thì:
“Ta về mình có nhớ ta”
Khi “ta” và “mình” hòa hợp, xoắn xít thì:
“Mình đi mình lại nhớ mình”

Chính nhờ đó mà tình cảm quân dân trong bài thơ được gắn kết và hòa hợp với nhau tuyệt đối. Cách Tố Hữu sử dụng thể thơ lục bát rất sáng tạo cũng góp phần thể hiện tính dân tộc trong bài thơ.

Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Trong toàn nội dung bài thơ, Tố Hữu đã tập trung thể hiện tình yêu, niềm ngợi ca với thiên nhiên đất nước và Việt Bắc. Qua từng hình ảnh mà tác giả gợi nhắc, thiên nhiên và Việt Bắc thật đẹp, đặc biệt trong bức tranh tứ bình:

“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình.
Rừng thu trăng rọi
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.”

Loading...

Bức tranh thiên nhiên Việt Bắc thay đổi độc đáo qua từng mùa: đông có màu đỏ rực hoa chuối giữa nền rừng xanh trầm mặc, xuân có sắc trắng tinh khôi của hoa mơ, hạ có thứ màu vàng lóng lánh từ bông phách trổ, thu có ánh trăng thơ mộng. Con người Việt Bắc gắn với từng mùa cũng có nét riêng. Có ánh sáng phản chiếu con dao dắt trên lưng người rẫy nương lóe sáng đầy giữa núi rừng. Có bàn tay khéo léo, tảo tần của người mế, người em gái bản. Có cô sơn nữ mộng mơ hái măng tươi. Có tiếng hát nghĩa tình đêm giao lưu văn hóa làng bản. Người với thiên nhiên, người với người như hợp nhất tạo thành bộ tứ bình tuyệt sắc và tuyệt tình.

Xem thêm:  Phân tích hình tượng người lính Tây Tiến trong Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng

Bên cạnh đó, bài thơ còn phản ánh quá trình kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh nhưng nghĩa tình. Bài thơ có 90 câu nhưng không dưới 35 lần tác giả dùng từ “nhớ”. Trong nỗi nhớ dàn trải ấy, ta thấy một Việt Bắc nghĩa tình:

“Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già
Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son
Mình về, còn nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh”

Việt Bắc là cách mạng, là nơi quân dân vai kề vai, súng áp súng, chia sẻ từng miếng khoai, mảnh vải. Những hình ảnh như “mưa”, “lũ”, “mây”, “mù”, “hắt hiu”, “nặng”…. thể hiện nỗi khổ cực không chỉ là từ phía giặc mà còn là phía thiên tai, dịch họa từ thiên nhiên. Nếu không có những “lòng son” đậm đà kia, ai có thể vượt qua những ngày tháng đó.

Điểm kết thúc quá trình kháng chiến chính là thắng lợi:

“Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Ðèn pha bật sáng như ngày mai lên.
Tin vui trăm miềm
Hoà Bình, Tây Bắc, Ðiện Biên vui về
Vui từ Ðồng Tháp, An Khê
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”

Tố Hữu kết thúc bài thơ bằng những hình ảnh đầy tin yêu và lạc quan. Cuộc chiến trong “nghìn đêm” thăm thẳm ấy nay đã rực sáng. Tương lai rộng mở trên khắp đất nước. Tin thắng trận như một thứ “phấn hoa” tốt lành đi khắp muôn nơi báo hiệu. Từ đây, cả nước đi vào công cuộc xây dựng đất nước mới – một đất nước hoàn toàn độc lập, chủ quyền thuộc về tay nhân dân.

Xem thêm:  Giải Toán lớp 7 Bài Ôn tập chương 4

Tóm lại, với những đặc sắc nghệ thuật đậm đà tính dân tộc và những nội dung phản ánh trong bài thơ, “Việt Bắc” xứng đáng là thi phẩm hay nhất của văn học chống Pháp. Tác phẩm cùng với cái tên Tố Hữu sẽ sống mãi trong lòng người đọc yêu thơ.

You may also like...

DMCA.com Protection Status