Phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu

Đánh giá bài viết

Phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu

Bài làm

Khi các nhà văn cùng thời ra sức viết các “Hịch tướng sĩ” thời chống Mĩ để cổ vũ quần chúng chiến đấu thì Nguyễn Trung Thành lại dựa vào những kỉ niệm trong đời về núi rừng Tây Nguyên mới đột ngột hiện ra trước mắt để sáng tác những “anh hùng Điện Ngọc” mới. “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành ra đời tự nhiên như thế! Tác phẩm đã xây dựng lên nhiều hình tượng đẹp kì vĩ của núi rừng Tây Nguyên, trong đó có một hình tượng đặc biệt mới mẻ và thú vị – hình tượng cây xà nu và rừng xà nu.

Nguyễn Trung Thành tuy sinh ra ở đất Quảng nhưng lại có mối duyên sâu sắc với đất và người Tây Nguyên. Do đó, các tác phẩm của Nguyễn Trung Thành cũng tựa như những cuốn sử thi dân gian về Đăm Săn, Xinh Nhã… Truyện ngắn “Rừng xà nu” được in trong tập “Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc” và là áng văn tuyệt vời nhất của sự nghiệp Nguyễn Trung Thành. Từ thời gian lịch sử và không gian đậm chất sử thi của núi rừng Tây Nguyên, Nguyễn Trung Thành đã xây dựng hình tượng cây xà nu tựa một huyền thoại. Rừng xà nu và cây xà nu như một thể thống nhất vừa đau thương, vừa kiên cường lại vô cùng hiên ngang, lẫm liệt.

Bắt đầu từ nhan đề tác phẩm, người đọc đã bắt gặp hình tượng “rừng xà nu” rồi đó! Chính việc đặt nhan đề như vậy, tác giả mong muốn gợi ra được không gian câu chuyện, đó là: làng Xô Man nằm bên cánh rừng xà nu, người Xô Man do đó sẽ cùng chịu sự hủy diệt và nỗi đau thương chung với rừng xà nu.

Một trong những đặc điểm nổi bật của văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX đó là nền văn học mang cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng, đậm chất sử thi. Tính chất này được thể hiện rất rõ qua hậu hết các tác phẩm đương thời. Trong số các tác phẩm tôi đã tìm hiểu, bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng có lẽ là đại diện tiêu biểu nhất.   Quang Dũng là nhà thơ – chiến sĩ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp. Nguồn cội Hà Thành đã nuôi dưỡng tâm hồn Quang Dũng hào hoa, phóng khoáng, lãng mạn. Bài thơ “Tây Tiến” là khúc hùng ca ngọt ngào, say đắm của hồn thơ Quang Dũng. Bên cạnh nhiều đặc sắc nghệ thuật khác thì cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng được thể hiện rất độc đáo. Hai yếu tố này hài hòa, đan cài vào nhau trong cùng một tác phẩm đã chứng minh tài năng và tâm hồn Quang Dũng.   Trước hết, cảm hứng lãng mạn là một yếu tố bất di bất dịch trong văn học, đặc biệt là thơ. Thơ là tiếng lòng, là điệu hồn của những nhà sáng tạo nghệ thuật có tâm hồn nhạy cảm, đa mang. Do đó, hơn bao giờ hết, thơ luôn mang tính trữ tình. Cảm hứng lãng mạn trong văn học kháng chiến có nét khá riêng. Nó thể hiện hình ảnh những con người vượt lên thực tại cuộc chiến tranh gian khổ để thực hiện lý tưởng, hướng tới tương lai mới. Nó có tác dụng nâng đỡ linh hồn con người, động viên cổ vũ tinh thần và phát huy vẻ đẹp con người Việt Nam trong chiến tranh. Khi soi chiếu những điều này vào “Tây Tiến”, tất cả được hiện lên rõ nét qua ngòi bút đầy hào hùng, hào hoa của Quang Dũng. Ở tác phẩm, Quang Dũng bắt đầu và thả vào xuyên suốt bài thơ một nỗi nhớ “chơi vơi” thật thơ mộng, để rồi sau đó cảnh – tình – người hiện lên đầy kì vĩ, ảo diệu. Thiên nhiên trên con đường người lính Tây Tiến hành quân vừa hoang sơ, vừa huyền ảo:  “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”  Không gian dữ dội với mở ra từ chiều sâu thăm thẳm của dốc vực, chiều rộng mênh mông của mây trời và chiều cao ngút ngàn của vách đá. Lên cao nhất, chạm tới xa nhất, bước tới nơi sâu nhất… để rồi cuối cùng thả mình trong thung lũng Pha Luông “mưa xa khơi”. Có ở đâu ta lại thấy mình bay bổng đến thế. Giữa cái gian nan của thiên nhiên, đe dọa của kẻ thù, người lính vẫn thật hào hùng trong dáng điệu “súng ngửi trời”. Mũi súng của người lính khi đứng trên đỉnh cao như đang thăm dò thiên nhiên cao rộng. Hơn nữa, người lính còn đầy tin yêu, lạc quan với cuộc đời:  “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa  Kìa em xiêm áo tự bao giờ  Khèn lên man điệu nàng e ấp  Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”  Đêm hội đuốc hoa có ánh đèn, có nhạc, có tiếng cười, có điệu múa man dại. Trong cảnh chiến tranh khốc liệt, người lính vẫn giữ được sự trong sáng, hồn nhiên, tươi trẻ. Đó chính là biểu hiện cao nhất của cảm hứng lãng mạn.   phân tích cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng trong bài thơ tây tiến  Về tinh thần bi tráng, đây cũng là một đặc điểm thể hiện rất rõ trong tác phẩm. Bi tráng tức là không né tránh đau thương, dám nhìn thẳng vào đau thương rồi biến đau thương thành vẻ đẹp đậm chất hào hùng.   “Anh bạn dãi dầu không bước nữa  Gục lên súng mũ bỏ quên đời!”  Hai câu thơ trong bài khắc họa cái chết. Thế nhưng, bạn có thấy cái chết, khăn tang, nước mắt… Không! Người lính hy sinh thật rồi. Nhưng trong mắt Quang Dũng, họ chỉ như đang dừng chân nghỉ ngơi, mệt quá, họ “gục” một lát lên cây súng và vành mũ xanh. Họ hi sinh, nhưng chỉ như “không bước” tiếp.   “Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu, anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành”  Tương tự, đoạn thơ gần cuối bài cũng mang tinh thần này. Những hình ảnh “mồ viễn xứ”, “đời xanh”, “áo bào”, “về đất”… toàn là gợi đến cái chết. Vậy mà người lính vẫn “không tiếc”. Người lính Tây Tiến hi sinh như thể về trong vòng tay mẹ thiên nhiên. Tiếng “gầm” của thác đổ sông Mã vang lên tựa khúc độc hành Tây Tiến bi tráng.   Tóm lại, chỉ thông qua một vài đoạn thơ tiêu biểu trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng, người đọc có thể thấy được cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng thấm nhuần. Bài thơ đã giúp triệu người dân Việt lưu giữ hình ảnh và ca ngợi những con người Tây Tiến đã hi sinh cho Tổ quốc thêm tươi đẹp.

Loading...

Hình tượng rừng xà nu cũng được tác giả ưu tiên xuất hiện ở đầu tác phẩm. Những đoạn văn đầu tác phẩm đã tập trung toàn bộ vào khắc họa hình tượng cây xà nu và rừng xà nu. Mặt khác, hình ảnh này cũng được lặp lại ở cuối tác phẩm, là phông nền chung cho toàn bộ sự vật, sự việc trong truyện ngắn. Như vậy bức tranh thiên nhiên rừng xà nu sẽ là đòn bẩy để các nhân vật xuất hiện nổi bật và đẹp đẽ nhất. Cụ thể, từ mở đầu tới cuối tác phẩm, người đọc sẽ thấy được hình ảnh những đồi xà nu “nối tiếp nhau chạy đến chân trời”. Trong cả tác phẩm, không dưới 20 lần tác giả nhắc tới rừng xà nu và cây xà nu. Mỗi lần nhắc tới lại ở một góc độ khác nhau với vai trò khác nhau, khi thì hiện về trong kí ức con người, khi thì hiện ra trước mắt khi xuất hiện qua nhựa xà nu, khói xà nu…

Cuối cùng, rừng xà nu như một hình tượng có sinh mệnh, gắn liền với đời sống và quá trình hi sinh, nổi dậy, chiến đấu và trưởng thành của dân làng Xô Man. Khi gắn liền với đời sống con người, đuốc xà nu soi sáng đường rừng, khói xà nu được anh Quyết hun làm bảng dạy học, đuốc xà nu soi sáng những đêm dân làng mài giáo, ánh sáng lửa xà nu soi đường những đêm đồng khởi. Khi người dân Xô Man chịu đau thương, cây xà nu cũng mang bi kịch tương tự: “cả rừng xà nu không cây nào không bị thương”, “nhựa ứa ra tràn trề”, “bầm lại, đen và đặc quện thành từng cục máu lớn”… Mỗi cây xà nu như mang sức sống mãnh liệt “nhọn hoắt như những mũi lê”, “bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình mũi tên lao thẳng lên bầu trời”, “phóng lên rất nhanh để đón nắng”, “đạn đại bác không hạ gục được chúng”… Mỗi thế hệ cây xà nu trong rừng đều gắn liền với một lớp thế hệ người dân Xô Man. Cụ Mết chính là những cây xà nu đại thụ. Những cây xà nu bị chặt đứt ngang mình chết đi như anh Xút, bà Nhan, anh Quyết… bị giặc giết hại. Tnú tựa những cây xà nu trưởng thành tuy đau thương nhưng dắn dỏi. Những Heng, Dít… là thế hệ cây xà nu con “cành lá xum xuê như con chim đã đủ lông mao, lông vũ”. Các thế hệ này đã tạo thành một rừng xà nu thống nhất nối tiếp nhau tới tận chân trời.

Như vậy, Nguyễn Trung Thành đã xây dựng lên hình tượng rừng xà nu giàu chất sử thi và màu sắc anh hùng ca cho tác phẩm. Việc đồng nhất cây xà nu và hình tượng rừng xà nu đã chứng tỏ được phẩm chất anh hùng và khát vọng tự do của con người Tây Nguyên.

You may also like...

DMCA.com Protection Status